Wednesday, November 29, 2017

QUYÊN DI: BẢNG MẪU TỰ TIẾNG VIỆT VỐN ĐÃ HAY VÀ ĐỦ

BẢNG MẪU TỰ TIẾNG VIỆT VỐN ĐÃ HAY VÀ ĐỦ
Bài viết ngắn này không nhằm “tranh luận” với PGS TS Bùi Hiền về đề nghị “cải tiến chữ Việt" của ông cho bằng, nhân cơ hội này, chúng ta ôn lại với nhau những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ, là thứ chữ dùng mẫu tự La-tinh để ký âm tiếng Việt.
Bài viết rất ngắn này cũng không phải là một công trình nghiên cứu để đem ra thảo luận với các nhà ngữ học và ngôn ngữ học về tiếng Việt.
Gọi là căn bản, điều này có nghĩa là đụng chạm tới những điểm này, thay đổi hay xoá bỏ những điểm này thì chữ Quốc Ngữ không còn là chữ Quốc Ngữ nữa, mà là một thứ chữ gì khác rồi, nói rõ hơn là giết chết chữ Quốc Ngữ rồi. Cũng giống như một cái cây, người ta có thể hái hoa, hái quả, thậm chí cắt bớt cành, cái cây vẫn là cái cây; nhưng khi người ta đốn gốc, đào rễ thì cái cây không còn là cái cây nữa. Nó chết. Căn bản có nghĩa là rễ (căn), gốc (bản). Bởi vậy người ta mới nói kẻ mất gốc là “vong bản.”
Đây là những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ:
1. Chữ Quốc Ngữ là một hệ thống ký âm: âm phát ra như thế nào thì dùng những chữ cái (mẫu tự, ký tự) a, b, c, d, đ v.v… để ghi lại âm đó lên trên giấy. Cũng giống như người ta dùng những nốt nhạc do, re, mi, fa, sol, la, si để ghi lại trên giấy âm thanh của một khúc nhạc, một bản nhạc. Điểm này cho thấy chữ Quốc Ngữ và chữ Hoa (chữ Tàu) đặt trên hai nền tảng hoàn toàn khác nhau: chữ Hoa đặt trên nền tảng hình vẽ, hình tượng thế nào thì vẽ ra như thế, đơn giản nét đi rồi cho vào một ô vuông tưởng tượng mà thành ra chữ.
2. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ ghi tiếng nói của cả nước chứ không phải ghi tiếng nói của một miền, một vùng, một thành phố, cho dù thành phố đó là Hà Nội. Khi các nhà truyền giáo sáng tạo chữ Quốc Ngữ, các ông này đã đi khắp tất cả mọi nơi trên đất nước ta: Đàng Trong, Đàng Ngoài, miền Bắc, miền Trung, miền Nam, thu thập các cách phát âm, tổng hợp lại mà ra các âm (thể hiện bằng những chữ cái) và các thanh độ (thể hiện bằng các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.) Khi chỉ dựa vào cách phát âm của một miền, một vùng, một thành phố để làm thành bộ chữ thì thứ chữ ấy không thể được gọi là chữ Quốc Ngữ nữa. Ấy là chưa kể người của một vùng có thể thay đổi cách phát âm, lý do là có sự thay đổi người sinh sống ở vùng ấy. Người Hà Nội trước đây và người Hà Nội bây giờ trong cách phát âm có nhiều điểm không giống nhau.
3. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ có thể nói là duy nhất tại Á châu nằm trong khối chữ viết dùng hệ thống mẫu tự La-tinh. Những thứ chữ khác tại Á châu cũng dùng bảng mẫu tự La-tinh đều chỉ có tính cách thử nghiệm hoặc sử dụng trong phạm vi hạn hẹp, hầu như chỉ có tính cách phiên âm mà thôi. Đã gọi là nằm trong một hệ thống thì cách phát âm qua ký hiệu là các chữ cái phải giống nhau hoặc tương tự. Thí dụ: âm [thờ] được ký âm bằng hai chữ cái T và H: TH. Nhìn ký tự TH, người ta phát âm được là [thờ]. Nếu đổi đi, dùng ký tự W để ghi âm [thờ] thì tự mình tách ra khỏi hệ thống chung, gây rắc rối, khó hiểu chứ không phải là “hội nhập” thế giới. Người dạy tiếng Việt ở nước ngoài, khi dạy thường phải dùng phương pháp đối chiếu các ngôn ngữ: tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây-ban-nha. Học viên cảm thấy chữ Việt cũng có cách viết tương tự như ngôn ngữ của họ khiến họ cảm thấy dễ học, dễ viết. Đổi TH thành W để ghi âm [thờ] thì học viên chỉ có nước… chết!
4. Bảng mẫu tự tiếng Việt vốn có (từ thời Alexandre de Rhodes) (1) dựa vào nguyên tắc "đơn giản tối đa" để dễ học, dễ nhớ. Thí dụ: đã có ký tự P và ký tự H, ghép lại thành PH để ký âm [phờ] thì không cần F phải có mặt trong bảng mẫu tự nữa. Vì thế mà trong bảng mẫu tự tiếng Việt không có những chữ cái F, J, W, Z.
5. Tuy đơn giản, bảng mẫu tự này lại rất tinh tế. Cùng là âm [cờ] mà bình thường được ghi bằng ký tự C, lại được ghi bằng ký tự K khi âm [cờ] này đứng trước những âm I, E, Ê vì đây là 3 âm đầu lưỡi, và được ghi bằng ký tự Q(u) khi đứng trước những âm/vần bắt đầu bằng UY (và OA.) (2) Bỏ mất điểm tinh tế này đi, chữ Quốc Ngữ mất đi phần nào nét đặc biệt của nó. Vả lại, nếu đồng hoá, chỉ dùng K cho tất cả các âm [cờ] thì sẽ ra tình trạng hai chữ CỦA và QUẢ được viết giống nhau: KỦA.
6. Chữ Quốc Ngữ có đặc điểm là âm nào phát ra được cũng ghi (viết) được và chỉ có một cách viết đúng mà thôi. Thí dụ: phát âm là [chuyện] với phụ âm [chờ] đứng đầu thì phải viết là CHUYỆN; mà phát âm là [truyện] với phụ âm [trờ] đứng đầu thì phải viết là TRUYỆN. Người Hà Nội có thể phát âm hai âm [chuyện] và [truyện] giống nhau, đều là [chuyện] mà thôi, nhưng tại rất nhiều vùng trên toàn đất nước, đồng bào mình phát âm rất rõ hai âm [chuyện] và [truyện]. Không nên làm nghèo cách phát âm phong phú của người mình.
Tóm lại,
Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng tiêu chuẩn, có 23 chữ cái:
A B C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y
Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng đầy đủ, có 29 chữ cái:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
Chúng tôi thấy đây là hai bảng mẫu tự rất đơn giản và đầy đủ, không cần phải cải cách, thêm bớt gì cả.
Còn việc phiên âm những tiếng nước ngoài, trong đó có các ký tự F, J, W, Z lại là một vấn đề khác, chúng tôi không bàn tới ở đây.
Sự “cái tiến” như PGS TS Bùi Hiền đề nghị đã làm méo mó chữ Quốc Ngữ, nếu không muốn nói là ám sát nó, rất nguy hại. Nó khiến người ta hoang mang, tốn thì giờ, tốn công sức. Và nếu vô phúc nó được đem ra áp dụng thì tiết kiệm đâu không thấy, chỉ thấy nó tiêu phí rất nhiều năng lực, thì giờ và tiền bạc.
Để tránh sự nguy hại này, chúng tôi đề nghị chúng ta không tiếp tay phổ biến nó, cho dù chỉ là phổ biến để làm trò cười với nhau. Càng làm cho nhau cười, thứ chữ “cải tiến” này càng lan rộng. Các em trẻ tuổi vốn thích nghịch ngợm đã "chế tác" ra đủ các loại chữ viết “bí hiểm” để “chít chát” với nhau, nay gặp được thứ đồ chơi này sẽ đem ra dùng… cho biết. Dùng hoài hoá thiệt. Rốt cuộc, người ta không còn biết đâu là đúng đâu là sai nữa. Bây giờ đã thấy xuất hiện một bộ “Cuyển dổi Tiếq Việt” rồi đó. (3)
(1) Alexandre de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc Ngữ. Khi đến đất Việt để truyền đạo, ông phải học tiếng Việt qua các sách (chép tay) của các giáo sĩ Bồ-đào-nha đã đến miền đất này trước ông. Nhưng Alexandre de Rhodes đã có công lớn nhất trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc Ngữ. Ông là tác giả hai tác phẩm chữ Quốc Ngữ đầu tiên, ấn hành tại Rome năm 1651: “Tự Điển Việt-Bồ-La” và “Phép Giảng Tám Ngày.”
(2) Sự thật QUÝ là QU + UÝ, khi viết chúng ta giản lược một chữ U, thành ra QUÝ; QUẢ là QU + OẢ, khi viết chúng ta giản lược chữ O, thành ra QUẢ. Hiện tượng này cũng tương tự như GIÊNG là GI + IÊNG, khi viết chúng ta giản lược một chữ I thành ra GIÊNG. Có thể một số vị không đồng ý với cách giải thích này.
(3) Chúng tôi không mất thì giờ ghi lại tất cả những thay đổi, thêm bớt vào bảng mẫu tự tiếng Việt của PGS TS Bùi Hiền mà ông gọi là “cải tiến”. Tiếp tay phổ biến chúng làm gì! Chúng tôi cũng không tiếp tục thảo luận về vấn đề “cải tiến chữ Việt” trên trang Facebook này. Không ích gì! Ngoại giả, không ai cấm vấn đề “cải tiến chữ Việt” được trình bày và thảo luận trong các cuộc hội thảo ngôn ngữ.
nguồn: trích từ trang Facebook của nhà giáo & nhà văn QUYÊN DI
https://www.facebook.com/quyen.di/posts/10214156529204955

Sunday, November 26, 2017

BẮT CHƯỚC

       Tôi nghi ngờ những điều được gọi là sáng tạo. Như sáng tạo văn chương nghệ thuật chẳng hạn. Theo tôi, công việc mình làm chỉ là sự bắt chước từ người đi trước. Có khác chăng là cách bắt chước của mình là hay hoặc dở mà thôi. Bắt chước hay, là như tôi bắt chước những thi sĩ đi trước làm thơ, nhưng thơ tôi sáng tác phải độc đáo, độc lập với thơ của họ. Còn bắt chước dở, thì thơ tôi chỉ là bản sao, hoặc dù ngọ nguậy cho mấy thì cũng chỉ nằm trong phạm vi ảnh hưởng của người ta. Từ bắt-chước-dở đến bắt-chước-hay, phải qua một chặng đường thử thách. Có người, chỉ là một khoảng ngắn. Có người hầu như mất hết một phần đời. Nhưng cũng có người đã không bao giờ vượt qua được chặng đường này.

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN
(trích tự tuyện THẦM LẶNG TRỜI, THẦM LẶNG ĐẤT, 1994)

Saturday, November 18, 2017

NGUYÊN SA (1932-1998)

























ông là một tình thơ rực rỡ
của 20 năm VănHọcMiềnNam

từ "áo lụa hà đông", "tháng sáu trời mưa"
đến "nga buồn như con chó ốm"
đã hội tụ thành hình tượng thi ca ảo diệu một thời
làm giàu thêm rất nhiều
cho nhân tính văn chương

tầm nhìn ông khô
tấm lòng ông ướt
nên chi
khi đối diện phù du
thì nát tan kia bỗng dưng mềm mại

Nguyễn Đức Bạtngàn (2001)

---

Thơ NGUYÊN SA


LÚC CHẾT

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất
Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng
Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không
Ðôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh

Ở trên ấy mây mùa thu có lạnh
Anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
Em có ngồi mà nghe gió thu phai
Và em có thắp hương bằng mắt sáng?

Lúc ra đi hai chân anh đằng trước
Mắt đi sau còn vương vất cuộc đời
Hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai
Thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi

Ðôi mắt ấy đột nhiên buồn không nói
Ðột nhiên buồn chạy đến đứng trên mi
Anh chợt nghe mưa gió ở trên kia
Thân thể lạnh thu mình trong gỗ mục

Anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc
Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya
Trên tay dài giun dế rủ nhau đi
Anh lặng yên một mình nghe tóc ướt

Nằm ở đấy, hai bàn tay thấm mệt
Ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài
Những bài thơ anh đã viết trên môi
Lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh


ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn
Thơ học trò anh chất lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

Em không nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

Để anh giận mắt anh nhìn vụng dại
Giận thơ anh đã nói chẳng nên lời
Em đi rồi, sám hối chạy trên môi
Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng

Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng

NGUYÊN SA
(trích Thơ Nguyên Sa)

Friday, November 10, 2017

BIẾT BAO GIỜ

(tặng Em, Khánh Hòa)

thơ phát khởi từ cảm xúc
đây là tiến trình của tôi
từ chút gió
ngọn cỏ
hạt sương
hoặc nhân tình thế thái...
tất cả như ấn chứng
được ấp ủ trong thần trí
rồi đẩy chữ nghĩa
lên thơ
làm quà tặng cho đời

nhưng có cảm xúc
khởi từ oan khiên
đã khiến tôi bất lực
chết lặng
tê tái
buốt đau

như Việtnam của tôi lúc này
nhân họa đang là nghiệp chướng bất đắc dĩ
nhưng hầu như chưa đủ
lại còn dồn dập thêm thiên tai
(gần đây nhất là bão Damrey đã gây tổn thất lớn lao
ở vùng nam trung bộ)

một đất nước đang bị phá sản triệt để
bởi một đảng cầm quyền
chỉ biết bảo vệ lợi ích giai cấp
họ u mê quên mất giai cấp
cũng chỉ là một thành phần của dân tộc
nếu như dân tộc tiêu vong
thì giai cấp của họ sẽ về đâu
ngoài con đường tự diệt

đất ơi nước ơi
bất hạnh của dân tộc
vẫn còn đang mải miết đâm đầu
lao xuống vực sâu
thăm thẳm

biết khi nào mới chạm đến tận đáy
để tạo thành sức bật
bạo liệt
vùng lên

bao giờ bao giờ
bao giờ
nước ơi
đất ơi
dân tộc tôi ơi

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN
(Nov 10th, 2017)

Friday, November 3, 2017

PHÁ CÁCH THƠ, PHÁ HOẠI THƠ

bài thơ
dù núp dưới y áo nào
(cổ điển
tự do
tân hình thức...)
thực chất chỉ là bài tập làm văn biểu cảm

khi chúng ta chơi chữ nghĩa
với đầu óc rỗng
không chịu học tập
giả tạo cảm xúc
nghèo vốn sống
loanh quanh

khi chúng ta thiếu khả năng
nhưng đành hanh
nên đã nhũng lạm ngôn ngữ
để thỏa mãn cho cơn khát vô căn của mình

cái mới thực chất chẳng vin vào hình thức
mà phải xuất phát từ xung động
đột phá nội tâm

tâm mới
cảm quan mới
sẽ tạo thành tố mới
cho thơ

bởi vì cái mới
là hiện thân
là hệ quả
từ cái cũ

phá cách thơ làm sao thành tựu
khi mà chúng ta chưa đủ nội lức để phá cách cảm xúc

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

Friday, October 27, 2017

Vạn Trùng Hoa (bài số 2)

một lần đi xa,
giữa lúc máy bay hạ cánh
ở một phi trường nào đó,
để chuyển tiếp qua một chuyến bay khác
em gửi điện thư báo tin
“anh ơi, em đang ở chỗ này nè, anh ơi...."

tôi xúc động
viết ba bài thơ nhỏ
mỗi bài đều có chung một khổ thơ đầu,
nhưng tiếp theo sau mỗi bài thơ là cảm xúc mới
cùng ân tình mới,

bài số 1 posted trước đây
hôm nay post bài số 2,
bài số 3 đợi lúc có dịp

--------

VẠN TRÙNG HOA (bài số 2)

anh biết trong thời khắc này em đang ở trên máy bay
bên ngoài không gian ngắt xanh tình tự
anh biết trong giây phút này em đang là mây bay
trên đỉnh đại ngàn
cô lữ

thần hồn anh mênh mang thần hồn em
theo ánh trăng xưa bên trời cố xứ
nơi hôm nao việtnam có anh bỏ đi 
chưa một lần trở về
bây giờ là mặt trời quang thắm viền môi thỏ

sáng mai này ngọt theo chiều sa mỹ châu
sóng biển chẻ theo triền tóc em lừng hương đông á
những dặm sông dặm núi dặm đường
dặm đất dặm trời
hôn lên dặm chân em
là anh bềnh bồng
bềnh bồng
lạc hà
lộng vũ

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

Friday, October 13, 2017

Ý KIẾN VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

trước 30 tháng tư 1975
văn học Việt Nam dựa theo đường ranh địa lý
tập trung vào 2 khuynh hướng
tự do khai phóng miền Nam
nô dịch tay sai miền Bắc
(có lẽ hơi khiên cưỡng
vì trong Nam cũng có ngòi bút theo khuynh hướng ngoài Bắc
và ngược lại)

sau 30 tháng tư 1975
cả nước nằm dưới ách toàn trị
văn học miền Nam bị vu khống
tác phẩm bị thiêu đốt
tác giả bị tù đầy, quản thúc, bức tử...

và khoảng 1 triệu người vượt biên
mang theo tinh thần miền Nam ra nuôi dưỡng bên ngoài
hình thành văn học Việt Nam hải ngoại
đối kháng
với văn học chuyên chế trong nước

nhưng từ thập niên 1990
với tiến bộ của khoa học truyền thông
phát triển kỳ diệu của liên mạng toàn cầu (internet)
trong ngoài hầu như xóa nhòa ngăn cách
hai phía đã dễ dàng giao lưu tương tác

văn học Việt Nam hiện đại (bắt đầu từ đây
gồm cả trong lẫn ngoài)
đã gộp thành một tổng thể

vin vào thực tế khách quan
(theo tôi) thì
nền văn học này
nên được phân định
là dựa trên lằn ranh tâm thức
chứ không phải lằn ranh địa lý
nội hàm cũng vẫn 2 khuynh hướng quen thuộc
là nô dịch tay sai
xen lẫn với
tự do khai phóng

tuy trong nước vẫn còn nhiều tác giả cam phận
viết theo đơn đặt hàng để tồn tại
(phần đông đáng thương chứ không đáng trách)
nhưng đâu đó vẫn không hiếm tác giả giàu lương tri khí phách
(chả thèm ăn thóc nhà Chu)

bên ngoài vẫn còn những ngòi bút
thủ tín với căn cước của mình
trung thực sáng tác
và khuynh hướng nô dịch tay sai
là những kẻ
tuy đã từng tháo chạy từng vượt biên từng ...
nhưng phản bội căn cước
u mê đeo bám hư danh
chỉ biết thỏa mãn tự ái sĩ diện
đốn bỏ tư cách công dân
thiêu hủy luôn cả lòng tự trọng
(đám này còn ngoan ngoãn hơn cả văn nô
tự kiểm duyệt
tránh né thực trạng thê thảm của dân tộc của đất nước
cố lấy lòng bạo quyền VC
để có cơ hội được phép trở về
vênh vang khoe mẽ)

trên đây chỉ là tạm phác thảo
nếu có gì thêm thì sẽ bổ túc sau

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN
2014

Sunday, October 8, 2017

Một Chút Suy Nghĩ Riêng Tư Về Giải Nobel Văn Chương

hằng năm cứ đến mùa giải Nobel văn chương thì văn giới xao động
(tán thưởng hoặc chê bai)
về những tác giả trúng giải hoặc không trúng giải

nếu như chúng ta chịu khó lưu ý
thì sẽ thấy
là ban tuyển chọn của hàn lâm viện Thụy Điển
cũng chỉ là nhân loại bình thường
họ có những giới hạn nhất định
cho nên khi bỏ phiếu để lựa chọn tác giả trúng giải
thì văn phong của tác giả được tuyển chọn bắt buột phải phù hợp "ý thích" của họ
(dĩ nhiên là thông qua bản dịch bằng tiếng Thụy Điển)
và cái "ý thích" của họ cũng chẳng hề đại diện cho bất cứ ai
(bằng chứng là tất cả tác giả trúng giải Nobel văn chương từ trước đến nay
thì đã có mấy kẻ còn để lại dấu ấn trong lòng độc giả)

và đôi khi họ (ban tuyển chọn của hàn lâm viện Thụy Điển & Na Uy)
còn bị vây khốn bởi những thế lực chính trị hôn ám
và đã ứng xử nhuốm phần bôi bác
như trường hợp với nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc
vì (Na Uy) lỡ đã trao giải hòa bình cho tù nhân lương tâm Lưu Hiểu Ba (2010)
khiến cho nhà cầm quyền Trung quốc phẫn nộ
cho nên sau đó
họ (Thụy Điển) đã trao giải văn chương cho văn nô Mạc Ngôn (2012) để tạ tội vuốt ve

với tôi
khi bạn đã là một người cầm bút có nhân cách
thì phải hiểu rằng
mục đích cao cả nhất
là hãy biểu hiện sáng tác như một hành động tâm huyết
sống cùng viết tận
trụng thực với thiện lẫn ác
bằng danh dự và lòng tự trọng

còn "những giải này danh kia" thì nên coi như hớp rượu qua đường
thế thôi

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN



Wednesday, October 4, 2017

HÀ NỘI

rồi phương hướng theo đồi cao đứng thẳng
em trở thành chim núi trốn đêm khuya
đời rót mật như vành khuyên ngậm đắng
cành sương hoa ướt một thuở chia lìa

ta bước tới với cả hồn hiu hắt
cánh môi mềm có hong ấm cho em
triều thủy cạn rát nồng thân đá lạnh
khi gần nhau là nhiễu loạn say mèm

em đứng dậy như đoàn quân cảm tử
lẫn ngọt bùi với tóc gió bay bay
ta ngã rạp theo vòng đai cố thủ
giờ vinh quang em có buốt mặt mày

là giới sắc chìm sau thềm lá mạ
là tơ trời tìm hẹn xuống châu thân
là trút bỏ nửa cuộc đời vội vã
là chân tay đều nhịp giữa vô ngần

em đốt tuổi giăng một thời quay quắt
chạy vòng quanh từng sợi ngắn sợi dài
như đốm lửa trên môi người se thắt
ta vô hồn đầu nụ thắm hôm mai

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

Wednesday, September 27, 2017

KHI LÊN ĐƯỜNG

khi con lên đường là không còn gì cả
khi con lên đường lòng mẹ có vui
quê hương đó ngút trời bom đạn réo
trong tim con nước mắt lớn theo người
khi con lên đường còn gì để lại
muối trong thân cha mặn chát gầm đời
khi con lên đường cũng đầy thương nhớ
với sa trường cũng cay xé khôn nguôi
cũng mòn mỏi theo trong lần mẹ đợi
như ngày xưa cha chinh chiến trên ngàn
con lớn khôn theo cha ngày cũ
bão trong lòng không ngăn nỗi gian nan
khi anh lên đường em còn hờn giận
rồi biên cương ải vắng cũng đành
thời loạn tặc anh đi làm chiến sĩ
giữa tình người tình đất nước chia ngăn
với lịch sử là ngày sau thức dậy
em ngắm nôi hồng như mẹ ngày xưa
hãy nói về bình yên như bầu sữa ngọt
trong tình yêu không dấu tích hận thù
khi anh lên đường là mai sau nhìn lại
có ngậm ngùi em cũng hãy dưng dưng
bóng lá em là sầu đưa quán chợ
trên vai anh là đất nước tang bồng
khi lên đường là thôi bao giờ hẹn ước
mẹ mòn thân trông mắt hạc hao gầy
quê quán cũ theo mây chiều xuống thấp
xác thân mình như trái phá đâu đây
NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN
(1971)